Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau đây: “Việc mở Hội nghị Pari về Việt Nam (từ tháng 5-1968) và đặc biệt là việc ký kết Hiệp định Pari năm 1973 khô...
Đề bài
Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau đây:
“Việc mở Hội nghị Pari về Việt Nam (từ tháng 5-1968) và đặc biệt là việc ký kết Hiệp định Pari năm 1973 không phải là kết quả của nhân nhượng ngoại giao đơn thuần, mà là sản phẩm của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Những thắng lợi quân sự trên chiến trường, nhất là sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đã tạo thế và lực mới, buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận đàm phán và ký kết hiệp định theo những điều khoản cơ bản có lợi cho cách mạng Việt Nam”.
(Nguyễn Thị Bình, Gia đình, bạn bè và đất nước, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật,
2007, tr. 203–205.).
a) Hội nghị Pari về Việt Nam được bắt đầu sau thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ trên không.
b) Hiệp định Pari (1973) về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được kí kết là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ trong thế kiềng ba chân chính trị, quân sự và ngoại giao.
c) Thực chất của thắng lợi đối ngoại tại Pari (1973) nằm ở việc chuyển hóa ưu thế trên chiến trường thành lợi thế trên bàn đàm phán.
d) Việc Hoa Kỳ chấp nhận ký Hiệp định Pari (1973) chủ yếu xuất phát từ thiện chí ngoại giao của các bên tham gia đàm phán, hơn là từ những biến chuyển của cục diện chiến tranh.
