Câu 3. Người ta tiến hành thí nghiệm chuyển gene mã hóa enzyme phân giải xylitol (gene X) vào tế bào E.coli. Hình 5A mô tả cấu tạo của plasm...
Đề bài
Câu 3. Người ta tiến hành thí nghiệm chuyển gene mã hóa enzyme phân giải xylitol (gene X) vào tế bào E.coli. Hình 5A mô tả cấu tạo của plasmid thể truyền. Gene lacZ mã hóa cho enzyme β-galactosidase, gene ampᴿ mã hóa protein kháng ampicillin. Enzyme β-galactosidase có khả năng phân giải chất X-gal không màu thành sản phẩm màu xanh dương. Do vị trí cắt giới hạn nằm giữa gene lacZ nên nếu gene X được cài thành công thì gene lacZ bị hỏng.
Sau khi đoạn DNA chứa gene X và thể truyền được xử lý riêng rẽ với cùng loại enzyme cắt giới hạn, chúng được trộn với nhau để tái tổ hợp ngẫu nhiên, tạo ra plasmid tái tổ hợp (Hình 5B). Hỗn hợp DNA này lại tiếp tục được cho biến nạp vào một chủng E.coli (đã bị đột biến bất hoạt gene lacZ trong operon Lac). Sau đó đem cấy trải vi khuẩn trên môi trường thạch tối thiểu có bổ sung thêm ampicillin và X-gal, thu được hai dòng tế bào 1 và 2 (Hình 5C).
a) Mục đích của việc sử dụng môi trường có ampicillin là để loại bỏ các tế bào E. coli không tiếp nhận được plasmid.
b) Những tế bào tiếp nhận được plasmid tái tổ hợp (chứa gene X) sẽ hình thành khuẩn lạc màu xanh dương trên môi trường có X-gal.
c) Gene lacZ trong thí nghiệm này đóng vai trò là gene đánh dấu giúp phân biệt giữa plasmid thường và plasmid tái tổ hợp.
d) Nếu một khuẩn lạc có màu trắng, điều đó chứng tỏ gene X đã được chèn thành công vào vị trí cắt giới hạn nằm trong gene lacZ.

